Các thuốc chống loạn thần có hữu hiệu trong điều trị tự kỷ không?

Thuốc chống loạn thần đã được sử dụng để điều trị các rối loạn hành vi trầm trọng ở trẻ tự kỷ. Những thuốc này tác động bằng cách làm giảm hoạt động chất dẫn truyền thần kinh Dopamine trong não. Việc sử dụng các thuốc chống loạn thần trong bệnh tự kỷ không nhằm ngụ ý rằng chứng tự kỷ và rối loạn tâm thần có liên quan nào đó.

Tuy nhiên, những loại thuốc này, đã từng được sử dụng để điều trị những hành vi loạn thần ở bệnh nhân tâm thần, cũng đã được chứng minh có hiệu quả với bệnh tự kỷ. Thuốc chống loạn thần được chia thành hai nhóm: điển hình và không điển hình.

Thuốc chống loạn thần điển hình. Một số ví dụ của các thuốc chống loạn thần điển hình bao gồm Haloperidol (Haldol), Thioridazine, Fluphenazine, và Chlorpromazine. Thuốc hay được sử dụng nhất trong nhóm này là Haloperidol.

Có hơn một nghiên cứu đã tìm thấy Haloperidol có hiệu quả hơn giả dược trong điều trị các vấn đề trầm trọng về hành vi ở bệnh nhân tự kỷ.

Khác với một số thuốc kê đơn phải dùng nhiều lần trong ngày, một số loại thuốc chống loạn thần có thể được dùng chỉ một lần một ngày. Để giảm tác dụng phụ vào ban ngày như buồn ngủ, một số loại thuốc có thể được dùng trước ngủ.

Một số thuốc chống loạn thần có sẵn dưới dạng “dự trữ” có thể được tiêm một hoặc hai lần/một tháng. Dạng “dự trữ” của loại thuốc tiêm được các nhà sản xuất bào chế, sẽ được phóng thích chậm từ chỗ tiêm vào máu. Điều này kéo dài tác dụng của một liều tiêm duy nhất, cho phép một lượng thuốc lớn hơn được dùng ít thường xuyên hơn.

Hầu hết các tác dụng phụ của thuốc chống loạn thần đều nhẹ; thường phổ biến giảm hoặc biến mất sau vài tuần đầu điều trị. Các tác dụng phụ bao gồm buồn ngủ, tim đập nhanh, chóng mặt khi thay đổi tư thế. Tác dụng phụ ít gặp có thể bao gồm đơ cứng cơ và giật cơ bất thường và các vận động mặt được gọi là rối loạn vận động muộn.

Photo by Laurynas Mereckas on Unsplash

Rối loạn vận động muộn là một bệnh lý liên quan đến việc sử dụng các thuốc chống loạn thần. Bệnh được đặc trưng bởi những vận động tự phát, nhịp nhàng của mặt, hàm, miệng và lưỡi, như mím môi, nhai, hoặc thè lưỡi. Những vận động mặt này đôi khi kèm theo các chuyển động giật nảy hoặc xoắn vặn tự phát của thân, tay và chân

Thuốc chống loạn thần không điển hình. Các thuốc chống loạn thần điển hình ban đầu thường có tác dụng phụ khó chịu, như cứng cơ, run, vận động bất thường. Trong khi tìm cách tránh các tác dụng phụ này, các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục tìm kiếm các loại thuốc tốt hơn. Nghiên cứu này đã dẫn đến sự phát triển của các thuốc chống loạn thần không điển hình. Thông thường, các thuốc chống loạn thần không điển hình hiệu quả hơn trong điều trị triệu chứng hành vi, nhưng không phải là không có tác dụng phụ, bao gồm chóng mặt, tim đập nhanh, và ngất xỉu.

Các thuốc chống loạn thần không điển hình cũng được biết đến với xu hướng gây tăng cân. Một vài ví dụ về các thuốc chống loạn thần không điển hình bao gồm Risperdal (Risperidone), Seroquel (quetiapine), Zyprexa (Olanzapine), Zeldox (Ziprasidone), Clozaril (Clozapine), và Abilify (Aripiprazole).

Thuốc đựơc nghiên cứu thường nhất ở trẻ em là Risperidone.

  • Có nhiều dữ liệu hỗ trợ hiệu quả của Risperidone trong việc cải thiện các rối loạn hành vi ở trẻ tự kỷ. Thuốc giúp giảm bớt hung hăng, kích động và các hành vi bộc phát.
    Khi xem xét có hệ thống việc sử dụng các thuốc chống loạn thần không điển hình ở trẻ tự kỷ, các nhà nghiên cứu kết luận rằng risperidone có thể có hiệu quả trong việc làm giảm tăng động, hung hăng, và các hành vi lặp lại, mà thường không gây phản ứng phụ nghiêm trọng.
    Các tác dụng phụ thường gặp nhất là làm tăng thèm ăn, tăng cân, và an thần.
  • Olanzapine (Zyprexa) và Ziprasidone (Geodon) đã được nghiên cứu ở trẻ tự kỷ với kết quả khích lệ.
    Các tác dụng phụ quan trọng nhất được báo cáo với olanzapine là tăng cân, mất sức, (suy nhược), và tăng sự thèm ăn. Ziprasidone không có liên quan đến việc tăng cân đáng kể.

Người dịch: Nguyễn Phương Thảo

Nội dung ở trang web này được chọn lọc chủ yếu từ trang Autism Speaks với sự đồng ý của tổ chức này. Thông tin ở đây không nhằm mục đích thay thế chẩn đoán, tư vấn, điều trị của các nhà chuyên môn đã được công nhận. Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ quyết định nào của bạn sau khi đọc thông tin ở trang web này.
KHI BẠN ĐĂNG LẠI BÀI Ở TRANG NÀY, XIN TRÍCH DẪN NGUỒN